SKĐS - Bỏng là một cấp cứu thường gặp trong
cuộc sống đời thường. Theo thống kê, đến 80% tổng số bệnh nhân là bỏng nông
trên diện hẹp, chiếm dưới 20% diện tích da của cơ thể.
1. Nguyên
nhân gây bỏng
NỘI DUNG:
1. Nguyên nhân gây bỏng
2. Dấu hiệu và các mức độ của bỏng
3. Bỏng có lây không?
4. Đề phòng bỏng
5. Cách điều trị bỏng
Tác nhân gây bỏng có 4 loại chính
là sức nóng, luồng điện, hóa chất và các tia bức xạ.
- Bỏng do nhiệt:
Thường gặp nhất, khoảng 90% các
tổn thương bỏng, đại đa số là bỏng do nhiệt độ cao, gồm 2 nhóm:
+ Bỏng do nhiệt độ cao: Bỏng do
sức nhiệt khô: bỏng do lửa cháy nhiệt độ cao như củi gỗ cháy, xăng cháy, hóa
chất cháy (NH4NO3, C2H2,..); bỏng do tia lửa điện (3.200- 4.800 độ C); bỏng do
vật nóng như kim loại nóng chảy (1.800 - 2.000 độ C); bỏng do các chất nóng
dính như nhựa đường nóng chảy... thường gây bỏng sâu và nặng.
+ Bỏng do sức nhiệt ướt: Nhiệt độ
gây bỏng thường không cao, có thể do nước sôi, thức ăn nóng sôi, dầu mỡ sôi,
hơi nước từ nồi áp suất.
Cơ chế bỏng của sức nhiệt khi tế
bào bị nóng do nhiệt sẽ xuất hiện các tổn thương tùy thuộc nhiệt độ và thời
gian tiếp xúc.
- Bỏng do luồng điện:
Mức độ tổn thương bỏng tùy thuộc
vào điện thế, điểm vào và điểm ra của luồng điện, thời gian bị, khu vực cơ thể
chịu ảnh hưởng của luồng điện.
Tổn thương tại chỗ thường sâu tới
gân cơ, xương khớp, mạch
máu, thần kinh..
Tỉ lệ bệnh nhân tử vong khá cao.
Bỏng do điện có 3 cơ chế: bỏng do luồng điện, bỏng do tia lửa điện, bỏng vừa do
luồng điện vừa do tia lửa điện.
- Bỏng do hóa chất:
Bao gồm các chất oxy hóa, chất
khử oxy, chất ăn mòn, chất gây độc cho nguyên sinh chất, chất làm khô, chất làm
rộp da, các chất kiềm mạnh.
Mức độ tổn thương bỏng phụ thuộc
loại hóa chất, nồng độ và thời gian tiếp xúc của hóa chất đó trên da và niêm
mạc. Bỏng do axít thường có độ rộng giới hạn, nhưng tổn thương sâu. Bỏng kiềm
thường sâu, tiếp tục tiến triển, và trầm trọng hơn bỏng axít.
Bỏng sâu dễ để lại sẹo.
- Bỏng do bức xạ:
· Bỏng do tia hồng ngoại.
· Bỏng do tia Rôngen, tia laser.
· Bỏng do tia gamma, hạt cơ bản bêta.
· Bỏng do nắng mặt trời cũng là loại bỏng do bức
xạ ánh sáng.
Cơ chế gây bỏng: do nhiệt lượng của tia xạ, do phản ứng quang
hóa học, làm khô gây bốc hơi nước, do ion hóa gây bức xạ xuyên.
2. Dấu hiệu và các mức độ của bỏng
Các triệu chứng bỏng gồm:
Theo độ nông sâu
- Bỏng nông: Là bỏng nhẹ, dễ khỏi và khi khỏi không để lại sẹo.
- Bỏng sâu: Là loại bỏng nặng và rất nặng, tác nhân gây bỏng phá
hủy lớp tế bào đáy, để lại sẹo dúm dó, đa số cần phải lại vá da.
- Bỏng trung gian: Là loại bỏng nằm giữa giới hạn bỏng nông và
bỏng sâu. Bỏng lan tới một phần của lớp tế bào đáy (lớp nông, phần uốn lượn lên
xuống). Bỏng loại này tiến triển tốt, nhưng cũng có thể nặng lên và thành bỏng
sâu. Bỏng trung gian thường gặp bỏng nước sôi chỗ có quần áo…
Ngoài ra, bắt buộc nhập viện không cần tính đến diện tích bỏng
đối với các trường hợp sau:
·
Bỏng bàn tay, bàn
chân, mặt, tầng sinh môn.
·
Bỏng mắt hoặc tai.
·
Nghi ngờ tổn thương do
hít.
·
Bỏng điện và bỏng hóa
chất.
·
Bệnh nhân suy kiệt.
·
Bệnh nhân có tổn
thương khác kèm theo.
3. Bỏng có lây không?
Bỏng là một tai nạn thường gặp không phải là bệnh lây nhiễm nên
không thể lây.
4. Đề phòng bỏng
Bỏng là một trong những tai nạn thương tích thường gặp, dù nặng
hay nhẹ đều để lại di chứng. Mọi người có thể chủ động phòng ngừa bỏng theo
những cách sau:
·
Dùng kem chống nắng
mỗi khi đi ra ngoài.
·
Điều chỉnh máy nước
nóng trong nhà phù hợp với nhiệt độ.
·
Trang bị dụng cụ bảo
hộ khi tiếp xúc với hóa chất.
·
Không để trẻ em, người
lớn tuổi gần các vật có thể gây bỏng.
·
Trang bị bình chữa
cháy tại nhà, cơ quan, trường học…
·
Che chắn các ổ cắm
điện.
·
Kiểm tra nhiệt độ nước
trước khi uống, tắm hoặc rửa tay…
·
Loại bỏ những thiết bị
điện hư hỏng.
·
Thiết kế lối thoát
hiểm cho nhà ở, trường học, văn phòng,… để kịp thời thoát nạn khi có sự cố xảy
ra.
5. Cách điều trị bỏng
Điều trị bỏng phụ thuộc vào vị trí và mức độ nghiêm trọng của
vết thương. Bỏng nhẹ có thể điều trị tại nhà. Với các vết bỏng sâu, nghiêm
trọng, sau khi sơ cứu ban đầu, người bệnh cần đến bệnh viện để điều trị theo
hướng dẫn của bác sĩ.
Đối với bỏng nhẹ để cho lành tự nhiên; nhưng cũng cần được điều
trị và theo dõi một cách hợp lý.
Đối với bỏng da sâu tuy còn khả năng tự lành, nhưng hay để lại
những sẹo lớn; nhất là đối với trẻ em và người trẻ tuổi. Bởi thế, nếu có điều
kiện và tổn thương ở những vùng quan trọng về mặt chức năng và thẩm mỹ, có thể
áp dụng phương pháp hớt bỏ những phần hoại tử và việc đóng kín vết thương ngay
bằng ghép da.
Những trường hợp không mổ, hoặc trên bề mặt vết bỏng lớn có
nhiều độ nông - sâu khác nhau hoặc bệnh nhân già yếu hay có bệnh đi kèm, thì
cần được điều trị bằng thuốc mỡ kháng khuẩn. Những bệnh nhân này sẽ được thay
băng, làm sạch vết thương hàng ngày bằng vòi nước vô trùng, lấy đi những chất
cặn bã của thuốc mỡ, của dịch xuất tiết và những phần da hoại tử đã bong ra.
Sau đó được bôi một lớp thuốc có kháng sinh thích hợp.
Ngoài ra, bệnh nhân có thể phải dùng thuốc kháng sinh, giảm đau,
kháng viêm… nhằm tránh biến chứng.
Với những vết bỏng ở độ sâu hơn nữa tổn thương tới tận lớp cơ,
mạch máu, thần kinh, xương khớp…, thì tùy từ trường hợp cụ thể các thầy thuốc
sẽ phải cân nhắc để đưa ra những giải pháp điều trị thích hợp (chuyển vạt da
hoặc vạt da + cân cơ tại chỗ; chuyển vạt da và tổ chức với cuống mạch máu từ
nơi khác đến bằng vi phẫu; hoặc phải cắt đoạn chi…).
BS Nguyễn Văn Sơn